Giồng cát là những dải đất cao hơn xung quanh, chạy dài gần như song song với bờ biển, cấu tạo chủ yếu từ cát pha. Ở vùng Sóc Trăng cũ, giồng có nhiều ở Vĩnh Châu, Trần Đề, Mỹ Xuyên và cả trong khu vực thành phố Sóc Trăng cũ. Theo cách giải thích của các nhà địa chất, chúng là dấu vết của những đường bờ biển xưa, khi biển còn nằm sâu trong đất liền hơn bây giờ.
Trên đồng bằng gần như phẳng lì, chỉ cần cao hơn vài tấc đến vài mét đã là khác biệt lớn: giồng ít ngập, thoát nước tốt, có túi nước ngọt dưới lớp cát. Vì vậy từ lâu giồng là nơi người ta chọn dựng nhà, lập xóm, dựng chùa, trồng hoa màu. Bài này giải thích giồng hình thành ra sao, vì sao làng xóm tụ trên giồng, và giồng đang thay đổi thế nào. Hiểu giồng cũng là hiểu vì sao bản đồ làng xóm vùng ven biển lại có hình những dải dài song song, chứ không tỏa tròn quanh một trung tâm như nhiều làng ở đồng bằng Bắc Bộ.
Giồng hình thành như thế nào
Hàng nghìn năm trước, đường bờ biển của vùng này nằm sâu trong đất liền so với ngày nay. Ở mép biển, sóng và gió dồn cát lại thành những dải đê cát tự nhiên chạy dọc bờ, giống như các cồn cát ven biển bây giờ. Rồi phù sa sông tiếp tục bồi ra phía trước, bờ biển dịch dần ra xa, để lại dải cát cũ nằm lọt giữa vùng đất bùn mới.
Quá trình ấy lặp lại nhiều lần, nên ở nhiều nơi có không chỉ một mà nhiều dải giồng song song, như những vân gợn trên mặt đồng bằng, đánh dấu các vị trí bờ biển ở các thời kỳ khác nhau. Giữa các giồng là những vùng trũng, đất sét, thấp và hay ngập, thường là ruộng lúa hoặc ao đầm.
Cách giải thích này dựa trên nghiên cứu địa chất về sự hình thành đồng bằng sông Cửu Long, và được nhiều tài liệu phổ thông nhắc lại. Chi tiết về tuổi của từng dải giồng, độ cao, chiều dài thì cần tham khảo các công trình chuyên ngành; trang không nêu số liệu cụ thể.
Nhận ra giồng khi đi trên đường
Hàng cây và nhà chạy thành dải. Từ xa, giồng thường hiện ra như một dải xanh rậm cây, nhà cửa nối nhau, nổi giữa cánh đồng trống hai bên. Đó là vì người ta ở và trồng cây trên giồng, còn vùng trũng để làm ruộng.
Đất sáng màu, khô nhanh. Mặt đất trên giồng là cát pha, màu xám sáng hay vàng nhạt, sau mưa khô rất nhanh. Đất vùng trũng bên cạnh là sét, sẫm màu, mưa xong còn lầy lâu.
Đường đi men theo giồng. Nhiều con đường cũ chạy dọc theo đỉnh giồng vì đất cao, chắc, ít ngập. Đi trên những con đường này, bạn sẽ thấy hai bên là nhà vườn, còn sau lưng nhà là ruộng thấp.
Chùa và mộ phần trên chỗ cao. Chùa Khmer, đình, miếu và khu mộ phần thường được đặt ở chỗ cao nhất của giồng, nơi không bao giờ ngập, giữa những tán cây lớn.
Ruộng màu thay cho ruộng lúa. Trên giồng, người ta ít trồng lúa nước mà trồng hoa màu cạn như hành, củ, dưa, đậu; vùng trũng giữa các giồng mới là ruộng lúa.
Vì sao làng xóm tụ lại trên giồng
Lý do đầu tiên là tránh nước. Trên một vùng đất thấp, mùa mưa ngập úng, mùa triều cường nước tràn, giồng là chỗ khô ráo hiếm hoi. Nền nhà trên giồng không cần tôn cao nhiều, đường đi không lầy lội, mộ phần không bị ngập.
Lý do thứ hai là nước ngọt. Nước mưa thấm qua lớp cát xốp, tích lại thành túi nước ngọt nằm trên lớp nước lợ, mặn sâu hơn. Ở vùng ven biển nơi nước sông, nước kênh mặn một phần trong năm, túi nước ngọt dưới giồng là nguồn sống quan trọng. Ngày trước, giếng đào trên giồng là nơi cả xóm lấy nước.
Lý do thứ ba là đất trồng. Đất cát pha tơi xốp hợp với cây màu, cây ăn trái chịu hạn, và với những ruộng hành, ruộng củ nổi tiếng của vùng ven biển. Nhờ đó, làng trên giồng vừa có chỗ ở vừa có đất canh tác ngay quanh nhà, còn ruộng lúa ở vùng trũng hai bên.
Không ngạc nhiên khi nhiều phum, sóc của người Khmer, xóm của người Kinh, người Hoa ở Sóc Trăng cũ đều nằm dọc theo các dải giồng, và khi nhìn từ trên cao, làng xóm vẽ lại gần đúng hình các đường bờ biển cổ.
Giồng và vùng trũng: hai kiểu đất cạnh nhau
Đi ngang một dải giồng, bạn sẽ thấy hai kiểu đất, hai kiểu sống chỉ cách nhau vài trăm mét. Bảng dưới đặt chúng cạnh nhau:
| Đặc điểm | Trên giồng | Vùng trũng giữa các giồng |
|---|---|---|
| Đất | Cát pha, tơi, thoát nước nhanh | Sét, dẻo, giữ nước, có nơi phèn |
| Ngập | Ít hoặc không ngập | Ngập mùa mưa, có nơi đọng nước lâu |
| Nước ngầm nông | Có túi nước ngọt, cần khai thác hợp lý | Thường lợ, mặn hoặc phèn |
| Cây trồng chính | Hành, củ, dưa, đậu, cây ăn trái, rau màu | Lúa, có nơi nuôi tôm, cá |
| Nhà cửa | Xóm tập trung, chùa, chợ, trường | Ít nhà, chủ yếu đồng ruộng |
| Rủi ro | Khô hạn mùa khô, cạn nước giếng | Ngập úng, nhiễm mặn, phèn |
Sự bổ sung này là nền tảng của nhiều nông hộ ở vùng ven biển: nhà và vườn màu trên giồng, ruộng lúa ở chỗ trũng. Một gia đình có thể làm cả hai, tùy mùa.
Túi nước ngọt dưới giồng đang bị khai thác quá sức
Túi nước ngọt dưới giồng không lớn và chỉ được bù lại bằng nước mưa thấm xuống. Khi số giếng khoan tăng nhanh để tưới hoa màu, phục vụ sinh hoạt và cả nuôi trồng, lượng nước rút ra có thể vượt lượng được bổ sung. Khi đó mực nước giếng hạ dần, và ở mép giồng, nước mặn từ bên dưới hoặc từ vùng trũng bên cạnh có thể len vào túi nước ngọt.
Người dân ở nhiều vùng giồng ven biển đã nhận thấy giếng phải khoan sâu hơn trước, có giếng từng ngọt nay lợ dần vào cuối mùa khô. Đây là lời nhắc rằng nguồn nước dưới giồng không phải vô tận. Chính quyền và ngành nông nghiệp khuyến khích tưới tiết kiệm, như tưới phun, tưới nhỏ giọt, phủ rơm giữ ẩm, và đưa nước máy đến khu dân cư để giảm khai thác nước ngầm cho sinh hoạt.
Nếu bạn sống hoặc mua đất trên giồng, hãy hỏi kỹ về nguồn nước: giếng hiện tại sâu bao nhiêu, cuối mùa khô có bị lợ không, khu vực có nước máy chưa. Những câu hỏi này quan trọng hơn nhiều so với vẻ đẹp của vườn cây trước mắt.
Giồng trong tên đất, tên làng
Ở đồng bằng sông Cửu Long, chữ "giồng" xuất hiện trong rất nhiều địa danh, cho thấy người xưa coi giồng là mốc nhận diện vùng đất. Người Khmer cũng có những cách gọi riêng cho các dải đất cao trong ngôn ngữ của mình, và nhiều tên phum sóc gắn với đặc điểm địa hình này. Việc giải nghĩa từng tên gọi cụ thể cần dựa vào tài liệu địa chí, nên trang không đi vào chi tiết ở đây.
Điều đáng chú ý là khi đô thị mở rộng, nhiều dải giồng trong khu vực thành phố Sóc Trăng cũ đã bị nhà cửa, đường phố phủ kín, khó nhận ra. Nhưng nếu để ý, bạn vẫn thấy những con đường hơi cao hơn xung quanh, những khu chùa cổ nằm trên chỗ đất gò, những xóm cũ không bao giờ ngập dù khu mới bên cạnh nước lên mỗi mùa mưa. Đó là giồng vẫn đang làm việc của nó.
Với người tìm hiểu lịch sử định cư, bản đồ các dải giồng là chìa khóa để hiểu vì sao các xóm cũ, chợ cũ, chùa cổ nằm ở chỗ này mà không ở chỗ khác. Đặt bản đồ giồng cạnh bản đồ làng xóm, sự trùng khớp hiện ra rất rõ.
Giồng hôm nay: những thay đổi đáng để ý
Dải đất cao này không đứng yên trước đời sống hiện đại. Một vài thay đổi người dân và người nghiên cứu hay nhắc tới:
- Lấy cát giồng để san lấp: ở nhiều nơi trong đồng bằng, cát giồng từng bị đào bán để san nền nhà, làm đường, làm giồng thấp đi, mất túi nước ngọt bên dưới.
- Nhà cửa dày lên: dân số tăng, nhà xây kín đỉnh giồng, mặt bê tông làm nước mưa khó thấm xuống bổ sung cho túi nước ngầm.
- Chuyển đổi cây trồng: một số ruộng màu trên giồng chuyển sang cây khác hoặc nuôi trồng, thay đổi nhu cầu nước.
- Đường lớn cắt ngang: các tuyến đường mới, nhất là tuyến ven biển, có đoạn cắt qua giồng, thay đổi dòng chảy mặt và cảnh quan.
- Giá trị cảnh quan: những dải giồng còn nguyên vườn cây, chùa cổ, xóm cũ ngày càng được nhìn nhận như một phần di sản cảnh quan đáng giữ của vùng ven biển.
Giữ giồng không có nghĩa là không được ở, không được làm. Nó có nghĩa là làm có tính toán: không đào cát tràn lan, không khoan giếng vô tội vạ, chừa chỗ cho nước mưa thấm xuống. Đó là cách để dải đất cao cha ông chọn tiếp tục nuôi được con cháu.
Một buổi sáng trên giồng
Nếu có dịp đi dọc một con đường giồng ở vùng ven biển Vĩnh Châu hay Trần Đề vào sáng sớm, bạn sẽ thấy nhịp sống rất riêng. Trời vừa sáng, người trồng màu đã ra ruộng tưới nước trước khi nắng lên, vì đất cát khô nhanh. Xe máy chở rau, chở hành ra chợ chạy dọc con đường cao, hai bên là hàng dừa, hàng thốt nốt, hàng tre che bóng.
Giữa các xóm, chùa Khmer với mái cong nhiều tầng nổi lên giữa vòm cây cổ thụ. Trẻ con đạp xe đi học theo con đường giồng, vì đó là lối khô ráo nhất. Phía sau những dãy nhà, đất dốc nhẹ xuống ruộng trũng, mùa mưa nước bạc trắng, mùa khô đồng nứt nẻ chờ vụ sau.
Đến trưa, cát giồng hắt nắng, mọi người tạm nghỉ dưới bóng cây. Chiều mát, ruộng màu lại đông người. Cái nhịp sớm – trưa nghỉ – chiều làm này gắn với đất cát nóng nhanh, khô nhanh, khác hẳn nhịp ở ruộng lúa nước vùng trong. Người đến từ nơi khác thường chỉ thấy một con đường làng đẹp; người ở đây hiểu đó là cả một hệ sinh sống dựa trên dải cát cao.
Câu hỏi thường gặp
Giồng cát là gì?
Giồng cát là dải đất cao chạy gần như song song với bờ biển, cấu tạo chủ yếu từ cát pha. Theo cách giải thích của các nhà địa chất, giồng là dấu vết của đường bờ biển xưa, khi bờ biển còn nằm sâu trong đất liền, rồi phù sa bồi ra phía trước để lại dải cát cũ.
Ở Sóc Trăng cũ, giồng cát có nhiều ở đâu?
Giồng có nhiều ở vùng ven biển Vĩnh Châu, Trần Đề, Mỹ Xuyên cũ và cả trong khu vực thành phố Sóc Trăng cũ. Nhiều làng xóm, chùa chiền và ruộng màu nằm dọc theo các dải giồng này, dễ nhận ra nhờ hàng cây, nhà cửa chạy thành dải giữa đồng.
Vì sao trên giồng có nước ngọt dù gần biển?
Nước mưa thấm qua lớp cát xốp và tích lại thành túi nước ngọt nằm phía trên lớp nước lợ, mặn sâu hơn. Túi nước này không lớn và chỉ được bổ sung bằng nước mưa, nên khai thác quá mức có thể làm mặn xâm nhập vào.
Trên giồng thường trồng cây gì?
Đất cát pha trên giồng hợp với cây màu như hành, củ, dưa, đậu, rau và cây ăn trái chịu hạn. Lúa nước thường trồng ở vùng trũng giữa các giồng, nơi đất sét giữ nước tốt hơn.
Mua đất trên giồng cần hỏi gì?
Nên hỏi về nguồn nước: giếng sâu bao nhiêu, cuối mùa khô có lợ không, khu vực đã có nước máy chưa. Ngoài ra kiểm tra quy hoạch, nguồn gốc đất tại cơ quan đất đai, và hỏi hàng xóm về lịch sử ngập, đào cát quanh khu đất.