Ba loại hình biểu diễn tiêu biểu của người Khmer Sóc Trăng là Rô băm, Dù Kê và nhạc ngũ âm. Rô băm là múa kịch đeo mặt nạ, kể tích truyện bằng động tác và nhạc, ít lời thoại. Dù Kê là sân khấu ca kịch có hát, có thoại, có vai hề, gần với cải lương và hát bội về hình thức. Nhạc ngũ âm là dàn nhạc gõ và hơi, vang lên trong lễ hội, nghi lễ ở chùa và làm nền cho cả Rô băm lẫn nhiều điệu múa.
Bên cạnh ba loại hình này còn có các điệu múa dân gian như Rom vong, Lăm Lêu, Sa-dăm mà ai dự lễ hội Khmer cũng có dịp thấy. Bài này giúp bạn phân biệt từng loại, hiểu chúng gắn với đời sống cộng đồng ra sao, và biết nên xem vào dịp nào ở vùng Sóc Trăng cũ.
Nhạc ngũ âm: dàn nhạc của chùa và lễ hội
Nhạc ngũ âm, tiếng Khmer gọi là Pin Peat, là dàn nhạc truyền thống gồm các nhạc cụ được làm từ năm loại chất liệu: gỗ, đồng, sắt, da và hơi, nên người Việt gọi là "ngũ âm". Dàn nhạc thường có đàn thuyền bằng gỗ hoặc tre gõ bằng dùi, bộ cồng xếp thành vòng tròn quanh người chơi, trống lớn trống nhỏ, chập chõa và kèn.
Âm thanh của ngũ âm vang, rộn và có nhịp lặp lại rõ, nghe từ xa đã biết chùa có lễ. Dàn ngũ âm được dùng trong các nghi lễ ở chùa, trong lễ hội như Chôl Chnăm Thmây, Ok Om Bok, làm nhạc đệm cho Rô băm và một số điệu múa cổ. Mỗi dàn nhạc thường thuộc về một chùa, cất giữ ở chùa, người chơi là thanh niên hoặc nghệ nhân trong sóc.
Học ngũ âm không có giáo trình viết sẵn theo kiểu nhạc viện. Người học ngồi cạnh người chơi giỏi, nghe, nhớ, bắt chước từng câu, mất nhiều năm mới chơi thạo. Vì vậy, một chùa còn giữ được dàn ngũ âm đầy đủ người chơi là chùa có truyền thống văn nghệ mạnh. Một số chùa ở Sóc Trăng mở lớp dạy ngũ âm cho thiếu niên để giữ nghề.
Ngoài ngũ âm, người Khmer còn có dàn nhạc dùng trong đám cưới và các cuộc vui gia đình, với đàn dây, sáo, trống nhỏ, âm sắc mềm mại hơn. Người xem lần đầu có thể chưa phân biệt được, nhưng chỉ cần nhớ: tiếng cồng và đàn thuyền vang rộn là ngũ âm, tiếng đàn dây réo rắt là nhạc của tiệc cưới.
Rô băm: múa kịch đeo mặt nạ
Rô băm là loại hình múa kịch, diễn viên đeo mặt nạ hoặc hoá trang, diễn lại tích truyện bằng động tác múa, điệu bộ và nhạc ngũ âm. Lời thoại rất ít, thường có người dẫn truyện kể nội dung cho khán giả. Tích truyện quen thuộc nhất lấy từ Riêm Kê, phiên bản Khmer của sử thi Ramayana Ấn Độ, kể chuyện hoàng tử Ream, nàng Seda, khỉ thần Hanuman và chằn tinh Krông Reap.
Mặt nạ là phần nổi bật của Rô băm. Mặt nạ khỉ, mặt nạ chằn, mặt nạ các nhân vật thần thoại được làm thủ công, nhiều màu, có sừng, có răng nanh, có mão nhọn, mỗi nhân vật một kiểu nhận diện riêng. Diễn viên đóng vai khỉ di chuyển nhanh, nhảy nhót, gãi đầu; vai chằn bước nặng, dang tay rộng, vai hoàng tử, công chúa múa chậm, tay uốn mềm mại.
Rô băm đòi hỏi tập luyện công phu, cả về động tác lẫn sự phối hợp với dàn nhạc. Ở Sóc Trăng, Rô băm được nhắc như một di sản quý, được các nhà nghiên cứu và cơ quan văn hoá quan tâm sưu tầm, phục dựng. Tuy vậy, số đội diễn Rô băm thường xuyên không nhiều, và phần lớn khán giả thấy Rô băm trong các dịp lễ hội lớn hay chương trình văn hoá có tổ chức.
Dù Kê: sân khấu ca kịch của người Khmer Nam Bộ
Dù Kê, tiếng Khmer gọi là Lakhon Bassac, là loại hình sân khấu ca kịch có hát, thoại, múa và vai hề. Chữ Bassac là tên người Khmer gọi sông Hậu, cho thấy loại hình này gắn với vùng đồng bằng ven sông Hậu. Theo nhiều tư liệu, Dù Kê hình thành vào khoảng đầu thế kỷ 20 ở vùng Sóc Trăng, Trà Vinh, trong bối cảnh giao lưu với sân khấu hát bội, cải lương của người Việt và hí kịch của người Hoa.
Khác với Rô băm, Dù Kê có nhiều lời thoại và lời ca, diễn viên không đeo mặt nạ mà hoá trang, mặc trang phục cung đình hoặc dân gian tuỳ vở. Tích truyện đa dạng: truyện cổ dân gian Khmer, truyện tích trong kinh sách, cả những vở về đời sống hiện đại. Vai hề xen giữa các lớp diễn, nói chuyện trực tiếp với khán giả, pha trò bằng cả tiếng Khmer lẫn tiếng Việt, là phần khán giả mong chờ nhất.
Dù Kê từng rất thịnh, có những đoàn đi diễn khắp các sóc, dựng rạp ở sân chùa, diễn suốt đêm. Ngày nay, Dù Kê vẫn còn được biểu diễn bởi các đoàn nghệ thuật chuyên nghiệp và các đội không chuyên, nhưng đối mặt với sự cạnh tranh của truyền hình, mạng xã hội. Những đêm Dù Kê ở sân chùa dịp lễ vẫn kéo được đông khán giả lớn tuổi, còn người trẻ ít quen hơn.
Phân biệt nhanh ba loại hình
Người mới xem dễ nhầm Rô băm với Dù Kê, hoặc nghĩ ngũ âm chỉ là nhạc nền. Bảng dưới giúp nhận ra từng loại khi đứng trước sân khấu.
| Tiêu chí | Nhạc ngũ âm | Rô băm | Dù Kê |
|---|---|---|---|
| Bản chất | Dàn nhạc gõ và hơi | Múa kịch đeo mặt nạ | Ca kịch có hát, thoại, hề |
| Lời | Không lời | Rất ít lời, có người dẫn truyện | Nhiều lời ca, lời thoại |
| Nhận diện bằng mắt | Bộ cồng xếp vòng, đàn thuyền, trống | Mặt nạ khỉ, chằn, mão nhọn | Hoá trang, trang phục sân khấu, vai hề |
| Tích truyện | Không kể chuyện | Chủ yếu từ Riêm Kê | Truyện dân gian, truyện tích, đời sống |
| Dịp thường gặp | Lễ ở chùa, lễ hội, đệm cho múa | Lễ hội lớn, chương trình văn hoá | Đêm văn nghệ ở sân chùa, đoàn nghệ thuật |
Ba loại hình không tách rời: ngũ âm làm nền cho Rô băm, Dù Kê dùng cả nhạc ngũ âm lẫn nhạc khác, và cùng một đêm văn nghệ ở sân chùa có thể có cả ba.
Múa dân gian: Rom vong, Lăm Lêu, Sa-dăm
Rom vong. Điệu múa vòng tròn phổ biến nhất, mọi người nối nhau di chuyển chậm quanh một cái bàn hoặc một điểm giữa sân, tay uốn theo nhạc. Rom vong dễ theo, nên trong lễ hội khách được mời vào vòng là chuyện thường. Cứ bước theo nhịp người phía trước, tay làm chậm là được.
Lăm Lêu. Điệu múa có nhịp nhanh và vui hơn Rom vong, thường xuất hiện trong các buổi văn nghệ, đám cưới, khiến không khí rộn ràng.
Sa-dăm. Điệu múa gắn với tiếng trống, động tác mạnh, vui nhộn, có lúc mang tính trêu đùa, thường do nam giới múa, hợp với không khí ngày hội.
Múa cổ điển. Bên cạnh múa dân gian còn có múa cổ điển với động tác tay, ngón tay rất cầu kỳ, trang phục lộng lẫy, thường do các đội nghệ thuật chuyên nghiệp biểu diễn trong chương trình lớn. Các thế tay trong múa cổ điển mang tên gọi riêng, gợi hình bông hoa, chiếc lá, ngọn lửa; người xem tinh ý sẽ thấy cùng thế tay ấy lặp lại trong tượng tiên nữ đắp trên mái chùa.
Những người giữ nghề ở Sóc Trăng
Người giữ nghệ thuật Khmer ở Sóc Trăng gồm ba nhóm. Nhóm thứ nhất là nghệ nhân trong các sóc: người chơi ngũ âm, thầy dạy múa, người làm mặt nạ, nhiều người đã lớn tuổi. Nhóm thứ hai là các đoàn nghệ thuật chuyên nghiệp của địa phương, có biên chế, có sân khấu, đi diễn phục vụ bà con và các sự kiện. Nhóm thứ ba là các đội văn nghệ không chuyên của chùa, của trường học, thanh niên tập để diễn dịp lễ.
Nghề làm mặt nạ Rô băm là một nghề thủ công đáng chú ý. Mặt nạ được làm từ khuôn đất sét, đắp giấy, vải, keo nhiều lớp, khi khô thì gỡ khuôn, sơn vẽ, gắn trang trí. Một chiếc mặt nạ đẹp mất nhiều ngày công. Số người làm được mặt nạ đúng kiểu truyền thống không nhiều, và mặt nạ ngày nay cũng được làm để bán làm vật trang trí.
Các chùa đóng vai trò nơi tập luyện và cất giữ nhạc cụ, trang phục. Nhiều chương trình phục dựng, sưu tầm của cơ quan văn hoá cũng dựa vào các chùa làm điểm tổ chức lớp học. Nếu bạn quan tâm, cách tốt nhất là hỏi trực tiếp các chùa lớn hoặc bảo tàng văn hoá Khmer ở trung tâm thành phố Sóc Trăng cũ về lịch biểu diễn, lớp dạy.
Xem biểu diễn Khmer ở đâu, dịp nào
Dịp dễ xem nhất là các lễ lớn: Chôl Chnăm Thmây giữa tháng 4 dương lịch và Ok Om Bok rằm tháng 10 âm lịch. Những ngày này, sân chùa trong sóc có văn nghệ buổi tối, khu trung tâm có sân khấu lớn với chương trình của các đoàn nghệ thuật. Lễ Kathina ở các chùa cũng thường có dàn ngũ âm đi rước.
Ngoài dịp lễ, việc gặp biểu diễn khó hơn, phụ thuộc vào lịch của đoàn nghệ thuật và các sự kiện văn hoá. Một số chương trình phục vụ khách tham quan có thể được tổ chức theo đặt trước, nhưng đó là dạng biểu diễn rút gọn. Muốn thấy đúng không khí, hãy chọn đêm văn nghệ ở một chùa làng trong mùa lễ. Ở đó sân khấu có khi chỉ là tấm phông căng giữa hai gốc cây, đèn treo trên dây, khán giả ngồi chiếu, trẻ con chen lên hàng đầu; buổi diễn có thể kéo đến khuya và không ai vội về.
Khi xem, bạn ngồi cùng khán giả địa phương, không đứng chắn tầm nhìn, không bật đèn flash vào mặt diễn viên, hỏi trước nếu muốn quay cả buổi. Nếu có thùng quyên góp cho đội văn nghệ, góp một ít là cách cảm ơn thiết thực, vì phần lớn đội diễn ở sóc hoạt động bằng tiền góp của bà con.
Câu hỏi thường gặp
Rô băm và Dù Kê khác nhau thế nào?
Rô băm là múa kịch đeo mặt nạ, kể tích truyện chủ yếu bằng động tác và nhạc ngũ âm, rất ít lời. Dù Kê là ca kịch có hát, thoại, vai hề, diễn viên hoá trang chứ không đeo mặt nạ, tích truyện đa dạng hơn.
Vì sao gọi là nhạc ngũ âm?
Dàn nhạc gồm các nhạc cụ làm từ năm loại chất liệu là gỗ, đồng, sắt, da và hơi, nên người Việt gọi là ngũ âm. Tiếng Khmer gọi dàn nhạc này là Pin Peat, dùng trong nghi lễ ở chùa và lễ hội.
Riêm Kê là gì?
Riêm Kê là phiên bản Khmer của sử thi Ramayana gốc Ấn Độ, kể chuyện hoàng tử Ream, nàng Seda, khỉ thần Hanuman và chằn tinh Krông Reap. Đây là nguồn tích truyện chính cho nghệ thuật Rô băm.
Dù Kê có từ bao giờ?
Theo nhiều tư liệu, Dù Kê hình thành vào khoảng đầu thế kỷ 20 ở vùng Sóc Trăng, Trà Vinh, chịu ảnh hưởng giao lưu với hát bội, cải lương và hí kịch người Hoa. Tên Khmer là Lakhon Bassac, gắn với tên sông Hậu.
Khách có được tham gia múa Rom vong không?
Được, và thường được mời. Rom vong là điệu múa vòng tròn chậm, dễ theo. Bạn cứ bước theo nhịp người phía trước, tay uốn nhẹ nhàng, không cần đúng hoàn toàn; tham gia vui vẻ là được quý.
Có thể học nhạc ngũ âm ở Sóc Trăng không?
Một số chùa và đơn vị văn hoá có mở lớp dạy ngũ âm, chủ yếu cho thiếu niên người Khmer. Người ngoài muốn học nên hỏi các chùa lớn hoặc bảo tàng văn hoá Khmer ở trung tâm thành phố Sóc Trăng cũ.