Ở vùng Sóc Trăng cũ, lúa được trồng theo hai kiểu lịch: vùng nước ngọt trong nội đồng làm hai đến ba vụ mỗi năm gồm đông xuân, hè thu và có nơi thêm thu đông; vùng nước lợ ven biển làm một vụ lúa mùa mưa xen với vụ tôm mùa khô. Vụ đông xuân thường là vụ chính, lúa ít sâu bệnh, hạt đẹp; vụ hè thu chịu mưa nhiều; vụ trên đất lúa – tôm phụ thuộc lúc rửa xong mặn.
Lịch cụ thể mỗi năm do cơ quan chuyên môn khuyến cáo theo thời tiết, mặn, rầy, nên con số tháng trong bài chỉ mang tính khái quát. Bài viết giải thích vì sao có nhiều vụ, mỗi vụ có đặc điểm gì, vì sao nông dân xuống giống đồng loạt "né rầy", mặn và mưa ảnh hưởng ra sao, và người ngoài có thể đọc cảnh đồng ruộng theo mùa thế nào khi đi qua vùng này.
Vì sao cùng một vùng lại có nhiều kiểu lịch lúa
Vùng Sóc Trăng cũ nằm giữa sông Hậu và biển Đông, nên đất đai chia thành những vùng có chế độ nước rất khác nhau. Các vùng trong nội đồng phía bắc và tây bắc như Kế Sách, Châu Thành, Mỹ Tú, Thạnh Trị, Ngã Năm cũ có nước ngọt phần lớn thời gian trong năm, hệ thống kênh và đê bao giúp chủ động tưới tiêu, nên làm được nhiều vụ. Các vùng ven biển và gần cửa sông như Vĩnh Châu, Trần Đề, một phần Mỹ Xuyên, Long Phú cũ thì mùa khô bị mặn, chỉ trồng được lúa vào mùa mưa.
Giữa hai vùng là những dải chuyển tiếp, nơi có năm làm được hai vụ, có năm chỉ được một vụ tuỳ mặn về sớm hay muộn. Vì vậy, khi nói "lịch lúa Sóc Trăng" phải hiểu là nhiều lịch khác nhau trên cùng một vùng đất. Người nông dân ở mỗi xã quen với lịch của xã mình, và theo dõi khuyến cáo từng năm của ngành nông nghiệp vì thời tiết, mặn, sâu bệnh mỗi năm một khác.
Ba vụ lúa ở vùng nước ngọt: đặc điểm chung
Bảng dưới mô tả khái quát; tháng gieo và thu hoạch thực tế xê dịch theo từng năm, từng vùng và theo khuyến cáo địa phương:
| Vụ | Thời gian khái quát | Thời tiết | Đặc điểm |
|---|---|---|---|
| Đông xuân | Gieo cuối năm, thu hoạch đầu năm sau | Mùa khô, nắng nhiều, ít mưa | Vụ chính, lúa ít sâu bệnh, năng suất và chất lượng thường cao nhất; vùng ven có thể gặp mặn cuối vụ |
| Hè thu | Gieo khoảng giữa mùa khô sang mùa mưa, thu hoạch giữa năm | Chuyển mùa, mưa tăng dần | Sâu bệnh nhiều hơn, lúa chín gặp mưa khó phơi sấy |
| Thu đông | Gieo giữa năm, thu hoạch cuối năm | Mùa mưa | Vụ thêm ở nơi có đê bao chủ động nước; rủi ro mưa bão, ngập úng |
Ở vùng nước lợ, lịch chỉ có một vụ lúa trong mùa mưa sau khi rửa mặn, như trình bày ở bài về mô hình lúa – tôm trong mục này.
Một số nơi, nhất là vùng có nguy cơ mặn cuối vụ, chủ động xuống giống đông xuân sớm hơn để lúa chín trước khi mặn lên cao. Quyết định sớm hay muộn dựa vào dự báo mặn của cơ quan chuyên môn từng năm.
Xuống giống đồng loạt và chuyện "né rầy"
Rầy nâu là một trong những loài sâu hại nguy hiểm nhất với lúa ở đồng bằng sông Cửu Long, vừa chích hút làm cháy lúa, vừa truyền bệnh vi rút. Rầy di chuyển theo từng đợt; nếu ruộng gieo sớm muộn khác nhau liên tục, rầy luôn có lúa non để sinh sống và lây lan. Vì vậy, ngành nông nghiệp theo dõi bẫy đèn để biết khi nào rầy trưởng thành bay rộ, rồi khuyến cáo nông dân xuống giống đồng loạt sau đợt rầy đó, gọi là lịch "né rầy".
Gieo đồng loạt trên cả cánh đồng giúp lúa cùng giai đoạn, rầy không có chỗ nối tiếp, việc phun thuốc nếu cần cũng làm cùng lúc, hiệu quả hơn và ít hơn. Lịch xuống giống tập trung còn giúp phân phối nước tưới, tổ chức máy gặt, máy sấy thuận lợi. Nông dân được khuyên theo lịch này, dùng giống xác nhận, sạ thưa vừa phải, bón phân cân đối để lúa khoẻ. Khi cần dùng thuốc bảo vệ thực vật, nguyên tắc là đúng thuốc, đúng liều, đúng lúc, đúng cách, đọc kỹ nhãn và theo hướng dẫn của cán bộ chuyên môn.
Mặn và mưa: hai biến số lớn nhất của mùa vụ
Mặn mùa khô. Khi lượng nước ngọt từ thượng nguồn sông Hậu giảm, nước mặn từ biển lấn sâu vào các cửa sông và kênh. Lúa đông xuân ở vùng giáp ranh có thể bị mặn vào giai đoạn trổ chín, làm hạt lép. Những năm mặn về sớm và sâu, nông dân phải gặt sớm hoặc chịu thiệt hại.
Mưa đầu mùa. Mưa đầu mùa đến muộn làm chậm việc rửa mặn ở vùng lúa – tôm và chậm xuống giống hè thu ở vùng ngọt. Mưa nhiều lúc lúa hè thu chín làm lúa đổ ngã, khó phơi, hạt dễ mọc mầm.
Mưa bão cuối năm. Vụ thu đông có rủi ro ngập úng nếu đê bao không chắc, nhất là khi mưa lớn trùng với triều cường.
Thông tin để ứng phó. Ngành nông nghiệp và khí tượng thủy văn thường thông báo dự báo mặn, lịch thời vụ khuyến cáo. Nông dân và hợp tác xã theo dõi để điều chỉnh. Người ngoài muốn tìm hiểu cũng nên đọc từ nguồn chính thức, không nên dựa vào lời đồn.
Giống lúa trên đồng ruộng Sóc Trăng cũ
Trên cùng một vùng đất, nông dân trồng nhiều nhóm giống khác nhau tuỳ vụ và tuỳ đầu ra. Nhóm gạo thơm chất lượng cao, trong đó có các giống ST, được trồng nhiều ở vùng lúa – tôm và cả vùng ngọt, nhất là những nơi có liên kết bán gạo thơm. Nhóm giống năng suất ổn định, ngắn ngày phục vụ gạo thường và xuất khẩu đại trà cũng chiếm diện tích lớn. Một số hộ còn giữ giống nếp cho nhu cầu làm bánh, làm cốm, cúng lễ trong cộng đồng.
Việc chọn giống mỗi vụ cân nhắc nhiều thứ: giống có hợp vụ đó không (đông xuân khác hè thu), có chịu được mặn nếu ruộng gần biển, có kháng rầy, bệnh phổ biến của vùng không, thời gian sinh trưởng có kịp trước mặn hay mưa lớn không, và quan trọng không kém là ai sẽ mua lúa. Ngành nông nghiệp thường đưa ra cơ cấu giống khuyến cáo cho từng vụ; nông dân tham khảo cùng kinh nghiệm của mình và yêu cầu của bên thu mua. Trang không khuyến nghị giống cụ thể cho ruộng nào.
Người và máy trên đồng mùa gặt
Mùa vụ không chỉ là chuyện cây lúa mà còn là chuyện người làm. Vài thay đổi đáng chú ý trên đồng ruộng vùng này:
- Máy móc thay sức người. Máy làm đất, máy sạ, máy gặt đập liên hợp, lò sấy đã phổ biến; khâu cấy tay, gặt tay chỉ còn ở ruộng nhỏ, ruộng sình lầy.
- Dịch vụ thuê máy theo mùa. Chủ máy gặt di chuyển theo lịch thu hoạch từ vùng này sang vùng khác; nông dân thuê theo công đất.
- Thiếu lao động trẻ. Nhiều thanh niên đi làm ở khu công nghiệp xa; mùa gặt nhiều nhà phải thuê người hoặc nhờ dịch vụ.
- Phun thuốc bằng thiết bị bay không người lái đã xuất hiện ở nhiều nơi; nguyên tắc an toàn và liều dùng vẫn phải theo hướng dẫn chuyên môn.
- Hợp tác xã làm dịch vụ cung ứng giống, vật tư, làm đất, thu mua, giúp hộ nhỏ có điều kiện như hộ lớn.
- Ghi chép đồng ruộng ngày càng cần thiết khi bán lúa cho doanh nghiệp yêu cầu truy xuất nguồn gốc.
Những thay đổi này làm mùa gặt nhanh hơn, ít vất vả hơn so với vài chục năm trước, nhưng cũng làm chi phí dịch vụ trở thành khoản đáng kể trong mỗi vụ.
Từ gặt tới bán lúa: chuỗi việc sau mùa
Thu hoạch xong không phải là hết việc. Ở vùng Sóc Trăng cũ, chuỗi việc sau thu hoạch thường như sau:
- Gặt. Phần lớn ruộng dùng máy gặt đập liên hợp; ruộng nhỏ, sình lầy vẫn gặt tay.
- Bán lúa tươi tại ruộng hoặc đem về phơi sấy. Nhiều hộ bán lúa tươi ngay cho thương lái, hợp tác xã, doanh nghiệp đã liên kết; một số hộ phơi sấy để bán sau hoặc giữ ăn.
- Vận chuyển. Lúa được chở bằng ghe, xuồng trên kênh rạch hoặc bằng xe ra lộ, về lò sấy, nhà máy xay.
- Phơi sấy. Sấy bằng lò sấy để hạt khô đều, giảm hư hỏng, nhất là vụ hè thu nhiều mưa.
- Xay xát. Lúa khô được xay thành gạo lứt, xát trắng, phân loại hạt, đóng bao.
- Xử lý rơm rạ. Rơm được cuộn bán làm thức ăn gia súc, trồng nấm, hoặc vùi lại ruộng; đốt rơm gây khói bụi và mất chất hữu cơ, nên ngày càng được khuyến khích hạn chế.
Giá lúa thay đổi theo vụ, theo giống, theo thị trường trong nước và xuất khẩu; trang không nêu hay dự báo giá. Nông dân có hợp đồng liên kết thường biết trước điều kiện bán, giảm rủi ro bị ép giá.
Đọc cảnh đồng ruộng theo mùa khi đi qua vùng này
Nếu bạn đi qua các tuyến đường ở vùng Sóc Trăng cũ vào những tháng cuối năm, cánh đồng ở vùng ngọt thường xanh mướt lúa đông xuân non, trong khi các xã ven biển là những ô ruộng ngập nước mưa chờ rửa mặn hay lúa mùa đang lên. Đầu năm, vùng ngọt vào mùa gặt vàng rực, máy gặt chạy trên đồng, ghe chở lúa nối nhau trên kênh; vùng ven biển lại bắt đầu lấy nước lợ vào nuôi tôm, ruộng thành ao.
Giữa năm, mưa về, đồng ruộng chuyển sang màu nước và màu mạ non của vụ hè thu, vùng ven biển thu tôm và chuẩn bị rửa mặn. Mỗi mùa một cảnh, và chính sự đan xen giữa ruộng lúa, ao tôm, giồng hành, vườn cây làm nên bức tranh nông nghiệp riêng của vùng đất này. Đi chậm, dừng lại hỏi chuyện người làm ruộng bên đường, bạn sẽ hiểu lịch mùa vụ rõ hơn mọi bảng biểu.
Câu hỏi thường gặp
Vì sao vụ đông xuân thường cho gạo ngon nhất?
Vụ đông xuân rơi vào mùa khô, nắng nhiều, ít mưa, ít sâu bệnh, lúa chín trong thời tiết khô ráo nên hạt chắc, ít bạc bụng, dễ phơi sấy. Vì vậy gạo vụ này thường được đánh giá cao về chất lượng. Tuy vậy, ở vùng ven biển, đông xuân có thể gặp mặn cuối vụ.
Ở vùng Sóc Trăng cũ có làm ba vụ lúa không?
Có ở một số vùng nước ngọt có đê bao chủ động nước, thêm vụ thu đông bên cạnh đông xuân và hè thu. Nhiều vùng chỉ làm hai vụ, còn vùng nước lợ làm một vụ lúa xen vụ tôm. Số vụ tuỳ điều kiện nước và khuyến cáo từng năm.
Lịch né rầy do ai đưa ra?
Lịch xuống giống tập trung thường do cơ quan chuyên môn về trồng trọt và bảo vệ thực vật của địa phương khuyến cáo, dựa trên theo dõi bẫy đèn và diễn biến thời tiết. Nông dân nhận thông tin qua cán bộ khuyến nông xã, hợp tác xã, loa phát thanh và các kênh thông tin chính thức.
Người không làm nông có cần quan tâm mùa vụ lúa không?
Nếu bạn mua gạo, đi du lịch hay làm ăn ở vùng này, mùa vụ có ích: gạo vụ mới thường thơm hơn, mùa gặt là mùa cảnh đồng đẹp và nhiều việc làm thời vụ, giao thông trên kênh rạch tấp nập hơn. Hiểu mùa vụ cũng giúp hiểu nhịp sống của người dân địa phương.
Đốt rơm rạ sau gặt có bị cấm không?
Nhiều địa phương khuyến cáo hạn chế đốt rơm vì khói bụi, mất chất hữu cơ và nguy cơ cháy lan; quy định cụ thể có thể khác nhau theo nơi và theo thời điểm. Các cách thay thế phổ biến là cuộn rơm bán, trồng nấm rơm, ủ phân hoặc vùi lại ruộng với chế phẩm phân huỷ.