Người Kinh là cộng đồng đông nhất ở vùng Sóc Trăng cũ, chiếm khoảng hai phần ba dân số theo các số liệu thường được dẫn; họ đến khẩn hoang chủ yếu từ thế kỷ 18–19 theo đường sông, lập xóm dọc sông Hậu, kênh rạch, rồi mở rộng vào vùng ruộng phía tây khi các kênh đào được mở.
Đời sống người Kinh ở đây có ba nét chính: miệt vườn ven sông Hậu và cù lao, xóm ruộng ở vùng trũng phía tây, và phố chợ ở các thị trấn cũ. Họ mang theo đình làng, lễ cúng đình, đờn ca tài tử, giọng nói miền Tây, và sống cạnh người Khmer, người Hoa đến mức nhiều thói quen ăn uống, từ ngữ đã pha trộn.
Bài này kể về người Kinh vùng Sóc Trăng: đến từ đâu, sống ở những kiểu vùng nào, giữ những nét văn hoá gì, và vì sao nói về người Kinh ở Sóc Trăng không thể tách khỏi hai cộng đồng kia.
Đến từ đâu, đến bằng cách nào
Người Việt vào Nam Bộ theo nhiều làn sóng, phần đông có gốc từ các tỉnh miền Trung như Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, đi bằng ghe theo đường biển rồi ngược các con sông. Vùng Sóc Trăng ở xa hơn Gia Định, Mỹ Tho, nên đến lượt được khai phá muộn hơn. Những người đến đầu tiên thường chọn đất ven sông Hậu, nơi có nước ngọt quanh năm, phù sa màu mỡ và đường ghe thuận tiện.
Từ nửa sau thế kỷ 19, khi người Pháp cho đào các kênh lớn, những vùng trũng phía tây trước đây khó canh tác được mở ra. Người Kinh từ các tỉnh miền Tây khác và từ miền Trung tiếp tục đến khẩn hoang, làm tá điền cho các điền chủ, rồi dần có ruộng riêng. Những vùng như Thạnh Trị, Ngã Năm, Mỹ Tú hình thành nhiều xóm ruộng trong giai đoạn này.
Sau năm 1954 và sau năm 1975 cũng có những đợt người đến lập nghiệp, làm ăn, kết hôn. Kết quả là người Kinh ở Sóc Trăng có gốc gác rất đa dạng. Nhiều gia đình đã quên quê gốc ngoài miền Trung, chỉ còn câu "ông cố từ ngoài Quảng vô" truyền lại; một số khác vẫn giữ gia phả, nhà thờ họ và về quê gốc tìm bà con.
Trong các xóm người Kinh lâu đời, nhiều dòng họ vẫn giữ nhà thờ họ, gia phả viết tay, mộ tổ trong vườn. Những gia phả này ghi tên các đời, năm sinh năm mất, đôi khi cả nơi xuất phát ngoài miền Trung. Với người muốn tìm gốc gác, đây là nguồn quý hơn mọi câu chuyện truyền miệng, và nên được chụp lại, sao lưu cẩn thận trước khi giấy mục nát.
Miệt vườn ven sông Hậu và cù lao
Dải đất ven sông Hậu thuộc Kế Sách, Long Phú và cù lao Dung là nơi đậm chất miệt vườn nhất của vùng Sóc Trăng cũ. Nhà cửa nằm dọc kênh, rạch nhỏ, sau nhà là vườn cây trái lên liếp xen mương nước: bưởi, chôm chôm, xoài, sầu riêng ở một số nơi, chuối, dừa. Trên cù lao Dung còn có mía, cây trái và những bãi bồi ven sông.
Nhịp sống miệt vườn gắn với con nước: lúc nước lớn, ghe xuồng ra vào dễ dàng, lúc nước ròng, mương vườn cạn, người ta tát mương bắt cá, bồi bùn cho liếp. Trước khi đường bộ về tận ấp, ghe xuồng là phương tiện chính; đến nay ở nhiều nơi vẫn còn đò ngang, xuồng nhỏ đưa người qua kênh.
Người miệt vườn có những thói quen đặc trưng: tiếp khách bằng trái cây vườn nhà, ngồi võng dưới tán cây trò chuyện, tụ tập đờn ca tài tử vào buổi tối. Những nét này không phải "đặc tính dân tộc" mà là lối sống sinh ra từ vùng đất có nước ngọt, cây trái quanh năm, nhịp làm việc theo mùa trái.
Xóm ruộng phía tây và phố chợ
Ngược với miệt vườn, vùng ruộng phía tây Thạnh Trị, Ngã Năm, Mỹ Tú có cảnh quan mở hơn: những cánh đồng lúa rộng, kênh đào thẳng, nhà nằm thành dãy dọc bờ kênh, dọc đường. Người Kinh ở đây sống chủ yếu bằng lúa, có nơi kết hợp nuôi cá, nuôi vịt, trồng màu trên bờ. Mùa gặt là lúc cả xóm nhộn nhịp, máy gặt chạy suốt ngày, ghe thương lái đến mua lúa tận ruộng.
Ở các thị trấn cũ như Ngã Năm, Phú Lộc, Kế Sách, Long Phú, Huỳnh Hữu Nghĩa, người Kinh mở tiệm, buôn bán, làm dịch vụ, làm công chức, giáo viên, cùng với người Hoa tạo nên các khu chợ. Ở khu đô thị Sóc Trăng cũ, người Kinh chiếm phần lớn dân cư các khu dân cư mới, các cơ quan, trường học, bệnh viện.
Ven biển Trần Đề, Vĩnh Châu, một bộ phận người Kinh làm nghề biển: đánh bắt gần bờ, nuôi tôm, buôn bán thuỷ sản ở cảng cá. Nghề này vất vả và nhiều rủi ro, gắn với thời tiết, con nước, nên những xóm biển có nhịp sống riêng, khác hẳn xóm vườn và xóm ruộng.
Đình làng và lễ cúng đình
Nếu chùa là trung tâm của sóc Khmer, miếu, hội quán là nơi tụ họp của người Hoa, thì đình làng là thiết chế quen thuộc của người Kinh. Nhiều xã cũ ở vùng Sóc Trăng có đình thờ Thành hoàng và các vị tiền hiền, hậu hiền là những người có công khai khẩn, lập làng. Kiến trúc đình miền Tây thường đơn giản hơn đình miền Bắc, mái ngói, cột gỗ, sân rộng có cây cổ thụ.
Lễ cúng đình lớn nhất trong năm là lễ Kỳ yên, cầu cho làng bình an, mùa màng thuận lợi, thường tổ chức vào thời điểm cố định theo âm lịch của từng đình. Trong lễ có phần nghi thức của ban quý tế và phần hội với hát bội, đờn ca, ăn uống chung. Người trong làng đi làm ăn xa nhiều người vẫn về dự lễ, góp tiền cho đình.
Khi đến xem lễ cúng đình, nên xem như một sinh hoạt văn hoá của làng: ăn mặc lịch sự, không chen lấn vào khu vực nghi lễ, hỏi người trong ban tổ chức nếu muốn chụp ảnh. Muốn biết lịch lễ của một đình cụ thể, cách tốt nhất là hỏi người dân trong xã, vì ngày lễ khác nhau tuỳ đình.
Người Kinh và hai cộng đồng hàng xóm qua chuyện làm ăn
Quan hệ giữa người Kinh với người Khmer, người Hoa ở Sóc Trăng được dệt chủ yếu qua chuyện làm ăn hằng ngày. Người Kinh làm ruộng bán lúa cho thương lái người Hoa, mua phân bón ở đại lý người Hoa, thuê nhân công người Khmer mùa gặt, hoặc đi làm công cho chủ ruộng người Khmer. Nông dân ba cộng đồng học cách trồng hành, nuôi tôm, chọn giống lúa của nhau qua những lần đứng chung bờ ruộng.
Ở chợ, người Kinh bán rau, bán cá, mở quán ăn cạnh tiệm người Hoa và sạp hàng của phụ nữ Khmer. Mối hàng quen giữ nhau hàng chục năm, có khi truyền sang đời con. Trong những năm khó khăn, việc cho nhau nợ tiền phân, nợ tiền gạo đến mùa sau trả là chuyện thường, dựa trên chữ tín giữa những người đã biết nhau lâu.
Không phải lúc nào quan hệ cũng êm đẹp; như ở mọi nơi, có những tranh chấp đất đai, nợ nần, hiểu lầm. Nhưng phần lớn người Sóc Trăng lớn tuổi khi kể chuyện xưa đều nhắc đến những người hàng xóm khác dân tộc đã giúp đỡ nhà mình lúc khó. Những câu chuyện ấy là phần quan trọng của lịch sử vùng, dù ít khi được ghi trong sách.
Những nét người Kinh Sóc Trăng mượn của hàng xóm
Sống cạnh người Khmer, người Hoa hàng trăm năm, người Kinh ở đây có nhiều thói quen, từ ngữ, món ăn mà người Kinh ở miền Bắc, miền Trung nghe thấy lạ:
- Món ăn: bún nước lèo, bún gỏi dà, bánh pía, lạp xưởng, các món có mắm bò hóc là những món người Kinh Sóc Trăng ăn như món nhà, dù gốc từ người Khmer hay người Hoa.
- Từ ngữ: nhiều từ thường được cho là mượn từ tiếng Khmer hoặc tiếng Triều Châu đi vào lời nói hằng ngày; bài về tiếng nói trong mục này liệt kê một số từ.
- Lễ hội: người Kinh đi xem đua ghe ngo, đi chùa Khmer dịp Tết Khmer, ăn bánh trong dịp lễ của người Hoa như một phần đời sống quê nhà.
- Nghề nông: kỹ thuật trồng hành, củ cải trên giồng cát, cách làm mắm, muối dưa được truyền qua lại giữa các cộng đồng.
- Gia đình: nhiều gia đình người Kinh có dâu, rể, cháu chắt mang dòng máu Khmer, Hoa, nên phong tục trong nhà cũng là sự pha trộn.
Chính sự pha trộn này làm nên cái "chất Sóc Trăng" khi người vùng này đi xa: ăn bún nước lèo nơi khác thấy thiếu, nghe một từ mượn quen thuộc ở chỗ lạ là nhận ra đồng hương.
Giọng nói và cách xưng hô
Người Kinh ở Sóc Trăng nói giọng miền Tây Nam Bộ, với những đặc điểm chung của vùng: không phân biệt rõ một số cặp phụ âm đầu, một số vần, giọng nhẹ, nhịp chậm hơn giọng Sài Gòn. Trong vùng, người lớn tuổi ở nông thôn dùng nhiều từ địa phương hơn người trẻ ở đô thị.
Cách xưng hô thân mật theo thứ bậc trong nhà là nét quen: gọi người lạ là "anh Hai", "chị Ba", "cô Tư", "chú Năm" theo thứ tự con trong gia đình, với lệ con cả gọi là Hai. Người lớn tuổi hay xưng "qua" với người nhỏ hơn, gọi người kia là "em", "con", "bây". Tiếng gọi "tía", "má" thay cho "bố", "mẹ" vẫn phổ biến.
Giọng nói và cách xưng hô ấy là dấu hiệu nhận biết đồng hương khi người Sóc Trăng đi làm ăn xa. Ở những khu nhà trọ gần khu công nghiệp miền Đông, chỉ cần nghe một câu "tía tui ở dưới Kế Sách" là hai người lạ đã thấy gần nhau hơn.
Câu hỏi thường gặp
Người Kinh ở Sóc Trăng chủ yếu có gốc từ đâu?
Phần lớn có gốc từ các tỉnh miền Trung như Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, đến Nam Bộ theo nhiều làn sóng di cư từ thế kỷ 17–19, rồi từ các tỉnh miền Tây khác chuyển xuống. Nhiều gia đình không còn nhớ rõ quê gốc, chỉ còn truyền miệng.
Lễ Kỳ yên là gì?
Là lễ cúng đình lớn nhất trong năm của làng người Việt ở Nam Bộ, cầu cho làng bình an, mùa màng thuận lợi. Lễ gồm phần nghi thức và phần hội với hát bội, đờn ca, ăn uống chung. Ngày lễ khác nhau tuỳ từng đình.
Miệt vườn ở Sóc Trăng nằm ở đâu?
Chủ yếu ở dải ven sông Hậu thuộc vùng Kế Sách, Long Phú cũ và trên cù lao Dung, nơi có nước ngọt quanh năm và đất phù sa. Nay vùng này thuộc các xã như Kế Sách, An Lạc Thôn, Phong Nẫm, Thới An Hội, An Thạnh, Cù Lao Dung.
Vì sao người miền Tây gọi người lạ là "anh Hai", "chị Ba"?
Vì ở Nam Bộ, con cả trong nhà được gọi là thứ Hai, nên "anh Hai", "chị Hai" là cách gọi lịch sự, thân mật với người lớn hơn mình một chút. Gọi "chị Ba", "cô Tư" cũng là cách gọi thân mật theo thứ bậc trong gia đình.
Người Kinh ở Sóc Trăng có biết tiếng Khmer không?
Một số người Kinh sống lâu năm trong vùng có nhiều người Khmer, nhất là làm buôn bán, nói được tiếng Khmer giao tiếp. Đa số chỉ biết vài từ, vài câu chào hỏi. Ngược lại, hầu hết người Khmer đều nói được tiếng Việt.
Đờn ca tài tử ở Sóc Trăng có phổ biến không?
Đờn ca tài tử là sinh hoạt quen thuộc của người Kinh ở nhiều vùng quê Sóc Trăng, nhất là vùng miệt vườn. Các nhóm đờn ca thường tụ tập vào buổi tối, dịp đám tiệc, lễ cúng đình. Đây là di sản chung của cả Nam Bộ.